linh kien may may-- mua may tinh cu tai ha noi

Bảng quảng cáo

Thăm Dò Ý Kiến

  • Theo bạn đề thi tốt nghiệp năm rồi như thế nào ?
  • Dễ
  • Trung bình
  • Khó
  • Quá khó

Đăng Nhập Nội Bộ

Lượt Người Truy Cập

  • mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Thông báo

Xem tất cả

Tôn sư trọng đạo và truyền thống nhà giáo

  

NHÂN NGÀY 20/11,  NÓI VỀ "TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO"

VÀ TRUYỀN THỐNG NHÀ GIÁO

 

Hàng năm, cứ đến ngày Nhà Giáo việt Nam (20/11), nhân dân cả nước đón chào ngày hội lớn của dân tộc, ngày hội của lòng “Tôn sư trọng đạo". Đây là dịp để mỗi người, mỗi ngành, mỗi địa phương ghi nhận và biết ơn công lao to lớn đới với các nhà giáo, những người thầy đã có công lao to lớn đối với sự nghiệp " Trồng người" cho đất nước. Nhân dịp xuân về, tết đến, tôi xin trao đổi đôi nét về đạo lý “ Tôn sư trọng đạo” và truyền thống các nhà giáo Việt Nam.

 

(Thầy Lê Văn Học HT nhà trường nói về tôn sư trọng đạo và truyền thống nhà giáo) 

 

            Vì sao có khái niệm “ Tôn sư trọng đạo"? Cụm từ “Tôn sư trọng đạo “ là câu chữ của đời xưa để lại, có lẽ xa xưa lắm rồi… Thời Phong kiến, nhân dân ta có nhiều người làm thầy: như thầy chùa, thầy thuốc, thầy pháp, thầy bói, thầy võ, thầy học hay thầy giáo…Tất cả đều được nhân dân gọi là thầy và được kính trọng. Theo giáo sư Lê Trí Viễn thì chữ “ Tôn sư trọng đạo”dường như chỉ dùng đối với thầy học ( tức là thầy, cô giáo dạy học).

 

            Vậy “ Tôn sư trọng đạo” là gì? Là sự tôn kính người thầy học và là tôn trọng đạo lý, lẽ sống ở đời. Sự kính trọng người thầy học là một nét đẹp đạo lý của dân tộc Việt Nam và lâu nay nó trở thành truyền thống tốt đẹp của một xã hội văn minh, hiếu học, trọng đạo làm người.

 

            Trong dân gian, từ rất lâu rồi khi nói về kết quả của một việc làm nào đó, ông bà ta thường nói “ Không thầy đố mầy làm nên”. Khi nói về sự thành đạt của con cháu mình nhân dân ta thường nói:

                        Muốn sang thì bắc cầu kiều

                        Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy.

            Câu ca trên đã trở thành lời khuyên hữu ích và sự nhắc nhở mọi người phải thật sự tôn kính, yêu mến người thầy dạy con mình. Để thể hiện sự yếu mến đó, ngày mùng năm, ngày tết, ông bà, cha mẹ của học trò thường đem biếu thầy lễ vật dù chỉ là quả đậu, khay nếp, gói trà…Gía trị tuy nhỏ nhưng hàm nghĩa tôn kính, tạ ơn thầy có công lớn trong việc dạy dỗ con cháu thành đạt. Bản thân học trò sau khi học thầy xong cũng rủ nhau thành lập hội “đồng môn” chăm lo cho thầy, lo cho  con cái thầy lúc thầy tuổi già, đau ốm hoặc qua đời:

                         Nợ cũ nước trào báo bổ

                        Ơn thầy, ơn chúa liễn ơn cha.

                                                ( Nguyễn Trãi)

 

            Ngày xưa, nhân dân ta ít được đi học, ông thầy là người có học hành chu đáo, văn hay, đạo cao, đức dày nên được nhân dân coi thầy giáo là người tiêu biểu cho chữ nghĩa cả một vùng. Không những thế mà còn tiêu biểu cho đạo lý làm người, đạo lý thánh hiền. Chính vì vậy những người có học nhiều hay học ít đều phải tôn kính thầy. Do đó có câu câu thành ngữ “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”( nghĩa là dạy một chữ cũng trọng là thầy, dạy nửa chữ cũng xem là thầy). Đây còn là lời khuyên bảo các thế hệ học trò luôn luôn phải biết kính trọng người thầy. Vì sao phải như vậy? Người thầy ngày xưa không những có vai trò rất đặc biệt trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá, chữ nghĩa cho học trò mà còn hình thành về mặt nhân cách, lý tưởng, lẽ sống một cách đúng đắn cho học trò mà bất kỳ ai không thể thay thế được.

            Trong chế độ phong kiến Việt Nam, người thầy được xã hội tôn vinh và được xếp ở vị trí cao thứ hai trong thứ bậc tôn kính, sau vị trí của vua và trước vị trí của cha mẹ trong quan hệ “ Quân - Sư - Phụ”.

 

            Đối với đất nước, người thầy còn còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ và nguồn nhân lực cho xã hội và góp phần mình vào việc xây dựng một quốc gia phồn vinh và phát triển. Nhà bác học Lê Quí Đôn đã từng nói “ Lương sư hưng quốc”( tức là trong xã hội có nhiều thầy giáo giỏi thì đất nước sẽ phồn vinh, hưng thịnh). Nhà đại thi hào R.Tago – Ấn Độ đã viết “ Giáo dục một người đàn ông thì được một con người, giáo dục một người đàn bà thì được một gia đình, giáo dục một người thầy giáo thì được một thế hệ”. Như vậy không những ở Việt Nam mà các nước trên thế giới,  vai trò người thầy giáo luôn luôn được coi trọng và được xã hội tôn vinh.

 

            Lịch sử các nhà giáo Việt Nam đã hình thành nên một truyền thống tốt đẹp. Ở khắp mọi nơi trên đất nước, hoạt động của nhà giáo bao giờ cũng gắn liền với tinh thần yêu nước, yêu dân tộc. Mỗi giai đoạn lịch sử đều xuất hiện những nhà giáo tiêu biểu xuất sắc có công lớn với nước trong việc đào tạo học trò và tham gia việc nước.

            Từ rất xa xưa, ở làng Nghi Lộc – Hà Tĩnh có thầy Nguyễn Thức Tự học rộng, hiểu sâu. Sau khi thi đỗ Á nguyên, thầy không ra làm quan mà chỉ mở trường dạy học. Học trò mới vào trường thầy buộc phải làm bài phú nhằm tập hợp nho sinh theo phương châm “ Học để cứu người, cứu dân” và được học trò thấm nhuần theo quan điểm cao đẹp của thầy.

 

            Thời kỳ Lê thịnh trị, thầy Trần Ích Phát là nhà giáo có thành tích giáo dục rạng rỡ nhất. Học trò thầy dạy nhiều người đỗ đạt cao. Trong đó có 03 trò đỗ Trạng nguyên, 04 trò đỗ Bảng nhãn, 06 trò đỗ Thám hoa, 10 trò đỗ Hoàng giáp, 51 trò đỗ Tiến sĩ…Công lao to lớn, danh tiếng của thầy ngày càng vang xa, học trò khắp nơi đến xin ghi tên học tập ngày càng nhiều.

            Đến thời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông biết tiếng thầy liền ra lệnh đặc cách bổ nhiệm thầy chức Giám sát ngự sử. Trong suốt thời gian làm quan, những ý kiến của thầy được người bị mắc lỗi lầm xin cuối đầu nhận lỗi, những điều thầy kiến nghị, can gián đối với triều đình đều được nhà vua tiếp thu và lưu tâm sửa chữa.

 

            Tuyết Giang phu tử - Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà giáo, thầy tham gia việc chính trị của triều đình được tám năm, thầy nhận thấy trong hàng ngũ quan lại đương thời có những người xấu xa, thối nát, bỉ ổi…sâu dân, hại nước, thầy dâng sớ lên vua Nhà Mạc xin chém 18 kẻ gian thần, vua Nhà Mạc không nghe, thầy xin cáo từ quan, lui về ở ẩn. Ghi nhận về đức độ và khí tiết của thầy, các phe phái chính trị từ Nhà Mạc đến Nhà Lê, từ Chúa Trịnh đến Chúa Nguyễn, phe nào cũng cần lời chỉ giáo của thầy, thỉnh cầu thầy chỉ giáo. Những điều chỉ giáo của thầy được đều được xem là vàng ngọc và hết lòng tin tưởng làm theo.

            Đối với vua nhà Mạc, thầy khuyên rằng “ Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng sau nhà nước có việc cần đến còn dung thân được ba bốn đời”. Tiếp thu lời khuyên của thầy, triều đình nhà Mạc sử dụng đất Cao Bằng đã làm nên việc lớn.

            Đối với chúa Nguyễn Hoàng, thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho 8 chữ “ Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” ( tức là một dãy núi hoành sơn có thể dung thân đến ngàn đời). Họ Nguyễn coi đây là lời chỉ giáo rất quan trọng và năm 1558, Nguyễn Hoàng đem cả tông tộc của mình vào trấn thủ đất Thuận Hóa mở rộng cơ đồ nước Việt xuống tận phương Nam.

            Đối với họ Trịnh, khi Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng có ý định nổi lọan chiếm đoạt ngôi nhà Lê, thầy chỉ dành cho một lời khuyên cho họ là “ Giữ chùa thờ phật thì được ăn oản”. Nghe theo lời khuyên ấy, họ Trịnh liền bỏ ý định đoạt ngôi, để ngôi Lê nguyên vị.

 

            Thầy Chu Văn An sống trong thời đại phong kiến suy vi, quan lại xu nịnh, lộng quyền và độc ác, vụ lợi cá nhân, thầy dâng sớ xin vua kết tội và chém đầu bọn lộng thần (thất trảm sớ) được muôn đời ca tụng nghĩa khí. Nhà mưu lượt Nguyễn Trãi, trước khi ra giúp Lê Lợi, đã từng dạy học ở thành Đông Quan và tâm hồn luôn mở rộng đón gió thời đại. Thầy Võ Trường Toản, một nhà giáo nổi tiếng ở miền Nam là người đạo cao đức trọng. Lúc còn sống cũng như khi qua đời đều được các thế hệ tôn kính. Thầy đã đào tạo nhiều học sinh giỏi như: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh …

 

            Thời kỳ đất nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, trong phong trào yêu nước chống giặc của nhân dân ta đã xuất hiện nhiều nhà giáo nòng cốt, tiêu biểu của phong trào. Thầy Nguyễn Đình Chiểu tuy mù lòa nhưng tâm trí luôn sáng, vẫn tham gia phong trào “tị địa”, thầy luôn luôn bất hợp tác với Pháp, tránh xa nơi Pháp chiếm đóng, không đi trên con đường cái quan do Pháp làm. Trước khi qua đời thầy dặn học trò sau khi thầy mất, chôn cất thầy theo chân hướng về phía Tây- Tức đạp Tây, chống Tây và được học trò làm theo. Sinh thời thầy dùng ngòi bút “chở đạo”, “đâm gian” vì đất nước, vì dân tộc:

                                    Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

                                     Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

 

            Nhà yêu nước Phan Bội Châu, trước khi xuất dương đã từng là thầy giáo, có thời kỳ “lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cày”và ông đã từng khuyên “lũ đầu xanh”- Lớp thanh niên “đúc gan thép để dời non lấp bể, xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”…Điểm lại lịch sử truyền thống các nhà giáo của dân tộc, lòng yêu nước, yêu dân tộc là chuỗi ngọc xuyên suốt.

            Đồng chí Nguyễn Ái Quốc trước khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước cũng bắt đầu bằng nghề dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết với tên gọi là thầy Nguyễn Tất Thành kính mến.

 

            Đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, trước khi đi tìm Nguyễn Ái Quốc đã từng dạy học ở trường Cao Xuân Dục, thành phố Vinh. Tư tưởng, mục đích của hai đồng chí là giống nhau. Chỉ có khác là ở chỗ người đi vào Phương Nam, người đi ra phương Bắc rồi cuối cùng gặp nhau tại Mạc Tư Khoa bàn bạc việc nước.

 

            Thời kỳ thành lập Đảng, bốn đại biểu thay mặt các tổ chức Đảng được Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị hợp nhất Đảng Cộng Sản đều là bốn nhà giáo. Đó là Nguyễn Đức Cảnh dạy học ở trường Công Ích, Bạch mai -  Hà Nội, Nguyễn Thiện dạy học ở trường Nhật Đức – Hà Nội, Trình Đình Cửu cũng dạy ở Hà Nội và Châu Văn Liêm dạy học ở các trường tại Long Xuyên, Sa Đéc. Thầy Châu Văn Liêm nhân lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh đã lãnh đạo cuộc biểu tình đòi giảm thuế cho nông dân đến Chợ Lớn – Sài Gòn thì bị kẻ thù xả súng bắn vào đoàn biểu tình, thầy xông lên phía trước đòi yêu sách và thầy đã hi sinh.

 

            Trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở Nam Kỳ, sáu đồng chí cách mạng bị giặc xử bắn tại Hooc Môn ngày 28/8/1944 có các nhà giáo như Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập và Nguyễn Hữu Tiến…

            Nhiều chiến sĩ cộng sản, những nhà lãnh đạo Cách mạng Việt Nam khi bị địch bắt ỏ tù ở Côn đảo vẫn tích cực tham gia dạy học cho đồng đội, đồng chí của mình như :Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn dạy lý luận, Phạm Văn Đồng, Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương dạy các môn văn hóa …

 

            Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kéo dài hơn 30 năm, mặc cho bom gầm, đạt rú, chết chóc và hi sinh, các thầy giáo vẫn đứng vững vàng trên bục giảng. Có thể “ Bằng than đen vẽ vạch thềm đình” hoặc trong những căn nhà mái lá với những ngọn đèn dầu khi mờ khi tỏ và cũng có những tháng năm “Bục giảng dưới hầm sâu” hoặc cũng có lúc người thầy giáo thao thức với đêm khuya giữa núi rừng thanh vắng  “giáo án em vẫn mở cho ánh sao bay vào”.

 

            Sau 1975, đất nước được hòa bình, thống nhất, đã có biết bao thế hệ thầy cô giáo từ mọi miền đất nước đã từng bỏ lại sau lưng quê hương yêu mến, cha mẹ, gia đình, người thương của mình…đến những miền đất lạ để chăm lo sự nghiệp “ Trồng người”. Công lao to lớn của quí thầy, cô giáo được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và xem đó là những biểu tượng đẹp về hình ảnh của những nhà giáo trong thời kỳ mới.

 

            Ngày nay, với cơ chế thị trường của thời kỳ đất nước đang mở cửa tiến bước vào tương lai công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, người thầy phải lo tròn nhiệm vụ chính trị của mình, vừa phải ra sức học tập, bồi dưỡng thêm kiến thức mới, vừa phải vất vả với những lo toan của cuộc sống đời thường nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, cuộc sống thanh đạm, để xứng đáng là người kỹ sư tâm hồn của thế hệ trẻ, để thiết kế - xây dựng thế hệ tương lai những tâm hồn cao đẹp.

            Nhìn lại lịch sử hôm qua và hôm nay, vị trí của người thầy trong xã hội có phần thay đổi nhưng truyền thống tốt đẹp của những người thầy luôn được kế thừa, bồi đắp và phát huy.

            Trong đời mỗi người, chắc hẳn ai cũng từng làm học trò, và chắc chắn ai cũng từng được thầy cô giáo dạy dỗ, giúp đỡ nên người. Nhưng cuộc sống mưu sinh, mỗi người khác nhau. Người có điều kiện thì thường đến thăm thầy. Người không có điều kiện thì chưa có dịp thăm viếng… Nhưng ai cũng luôn ghi nhớ, biết ơn và tôn kính thầy, cô đã từng dạy mình; đồng thời cảm nhận hình ảnh mỗi thầy, cô giáo đều có nét đẹp riêng. Những ngày đón xuân vui tết, chung ta hãy thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến những người thầy đã mất, và hãy dành thời gian thăm hỏi những người thầy kính mến!

                                                                                    LVH